Nền kinh tế phi chính thức n
Nông dân trồng cà phê ở Việt Nam đối mặt nhiều rủi ro và dễ bị tổn thương
Do tình trạng phi chính thức phổ biến, người trồng cà phê ở Việt Nam phải đối mặt với nhiều rủi ro và dễ bị tổn thương. Điều này làm nổi bật sự cần thiết phải tăng cường hợp tác trên toàn chuỗi giá trị của ngành.
10 tháng 9 năm 2024
HÀ NỘI (Tin tức ILO) - Việt Nam là nước sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới và là nước sản xuất hàng đầu giống cà phê robusta. Năm 2022, kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt khoảng 4 tỷ USD. Ngành này hỗ trợ sinh kế cho khoảng 1,4 triệu nông hộ nhỏ.
Khoảng 85% sản lượng cà phê của Việt Nam được sản xuất bởi các trang trại, nông hộ, tư nhân, những người thường có năng lực sản xuất thấp. Báo cáo mới của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho biết những người nông dân trong ngành này phải đối mặt với nhiều rủi ro và dễ bị tổn thương.
Thiếu bảo hiểm xã hội và thu nhập thấp
Các tác giả của báo cáo nhấn mạnh rằng tình trạng phi chính thức phổ biến trong ngành cà phê khiến phạm vi an sinh xã hội bị hạn chế, do nhiều công nhân ở các trang trại cà phê không đủ khả năng tham gia chương trình bảo hiểm xã hội để có lương hưu.
Theo kết quả nghiên cứu sắp công bố của ILO về khả năng tiếp cận an sinh xã hội và sức khỏe nghề nghiệp của 300 lao động ngành cà phê tại Việt Nam, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế là 93% nhưng bảo hiểm xã hội chỉ ở mức 24%.
Khó khăn về tài chính là nguyên nhân chính khiến người lao động không tham gia bảo hiểm xã hội, mặc dù 60% hộ gia đình và lao động ngành cà phê trong khảo sát được phân loại là đối tượng có thu nhập trung bình, về nguyên tắc là đủ khả năng tham gia bảo hiểm xã hội.
Một cán bộ quản lý tại một trong 12 hợp tác xã được Simexco hỗ trợ tại Đắk Lắk cho biết, nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội của nông dân khá cao.
“Hiện nay, 30-40% xã viên trẻ muốn được đóng bảo hiểm xã hội nhưng tài chính vẫn là một yếu tố cản trở chính. Số còn lại không có nhu cầu bởi đa phần tuổi đã cao nên thấy bảo hiểm không mang lại lợi ích,” người này cho biết.
Bên cạnh đó, mặc dù các chính sách và dự án của nhà nước đã giúp cải thiện chuỗi giá trị ngành cà phê và thúc đẩy tính bền vững, thách thức đối với lao động ngành cà phê vẫn tồn tại do công việc của họ không được đăng ký lao động và thu nhập không được đảm bảo.
Theo tính toán mới nhất trong báo cáo năm 2020 của ILO, tỷ lệ lao động trong ngành cà phê được trả ít hơn mức lương tối thiểu lên tới 25,9%.
Tại Đắk Lắk, thu nhập của nông dân chỉ đạt 1,7 triệu đồng/người/tháng (68 USD), chỉ bằng khoảng 60% mức lương tối thiểu.
Hơn nữa, ngành cà phê còn bị hạn chế bởi những thiếu hụt trong năng suất, chứng nhận sản phẩm, khả năng truy xuất nguồn gốc, đa dạng hóa và nỗ lực nâng cao giá trị sản phẩm cà phê.
Chuỗi giá trị phức tạp
Báo cáo nhấn mạnh rằng chuỗi giá trị ngành cà phê ở Việt Nam rất phức tạp với nhiều nhân tố, bao gồm nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp xuất khẩu và cơ sở kinh doanh đồ uống bán lẻ. Các nhân tố trong chuỗi giá trị liên kết dưới nhiều hình thức khác nhau.
Trên thực tế, một số công ty quốc tế lớn đã hợp tác với chuỗi các công ty thu mua, hợp tác xã và nông hộ để đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn sản phẩm riêng.
Ví dụ, Nestlé đã thực hiện tiêu chuẩn 4C trong 10 năm qua và có một số đối tác trong chuỗi cung ứng, bao gồm các đại lý và thương lái trung gian. Nông dân tuân thủ tiêu chuẩn 4C của Nestlé bán sản phẩm cho Nestle với mức giá được hỗ trợ cao hơn giá thị trường 200-300 đồng/kg sản phẩm và có thể lập thành các nhóm cà phê 4C tại địa phương.
Tuy nhiên, đôi khi công ty không mua hết sản lượng của nông dân.
Đại diện một doanh nghiệp tại Lâm Đồng cho biết, có năm, doanh nghiệp sản xuất 10.000 ha đạt chứng nhận 4C nhưng Nestle chỉ mua 3.000 ha.
Thêm vào đó, các hợp tác xã không nhận ra vai trò tiềm năng của mình trong việc chính thức hóa, mặc dù có khả năng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh. Hiểu biết và kiến thức của các hợp tác xã có thể còn hạn chế, từ đó làm giảm ảnh hưởng của hợp tác xã đối với nông dân.
Các biện pháp thúc đẩy chính thức hoá
Các tác giả nhấn mạnh rằng các ưu tiên chính để thúc đẩy tính chính thức trong ngành cà phê bao gồm tăng cường phối hợp và liên kết giữa các nhân tố trong chuỗi giá trị.
Các doanh nghiệp FDI cần tăng cường khai thác mạng lưới phân phối, hỗ trợ cập nhật yêu cầu thị trường, lựa chọn các chứng chỉ bền vững và tiềm năng phát triển thị trường. Các doanh nghiệp này cũng cần phân tích chính xác và cập nhật hơn về các tín hiệu và yêu cầu của thị trường, đồng thời định hướng tiếp cận thị trường để đảm bảo có chứng chỉ, có đầu ra.
Các doanh nghiệp Việt Nam nên tận dụng các nguồn lực phát triển bền vững từ các doanh nghiệp FDI và các tổ chức quốc tế để được hỗ trợ tài chính như tài chính xanh, bảo hiểm rủi ro cho nông dân.
Các hợp tác xã cần củng cố để hiểu đúng và hoạt động đúng bản chất, cả năng lực quản trị (có sự tham gia của nông dân), cả năng lực quản lý, đồng thời phát huy năng lực tập thể thông qua phối hợp sản xuất, tăng cường liên kết, mở rộng các mô hình liên hiệp HTX, HTX quy mô lớn.
Hơn nữa, ngành cà phê cần được nâng cao kiến thức về tiếp cận thị trường, tính bền vững và yêu cầu chất lượng; tận dụng nguồn tài chính bổ sung để cung cấp hỗ trợ lâu dài bền vững; và tạo điều kiện đa dạng hóa cây trồng, cải thiện đầu vào, tăng cường tiếp thị, số hóa và hỗ trợ truy xuất nguồn gốc.
“Để thúc đẩy chính thức hóa và giải quyết tình trạng thiếu việc làm thỏa đáng trong ngành cà phê, cần có sự hỗ trợ lâu dài, bền vững cho nông dân và các hợp tác xã,” báo cáo nhấn mạnh.
You may also be interested
Chính thức hoá
Thúc đẩy chính thức hóa trong ngành cà phê Việt Nam: Quan điểm của người sử dụng lao động về hỗ trợ cho các nông hộ - Báo cáo tóm tắt
Cổng thông tin quốc gia
Việt Nam