Công đoàn

Cạnh tranh công bằng có thể bảo vệ người lao động trong thế giới toàn cầu hóa

Bà Maria Helena André, Giám đốc Ban phụ trách Hoạt động Công nhân của ILO, chia sẻ suy nghĩ về chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên của bà trong tháng 3/2017. Trong chuyến công tác, bà đã có cơ hội gặp lãnh đạo Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Ban Đối ngoại Trung ương Đảng và Ban Dân vận Trung ương Đảng.

Tin | Ngày 29 tháng 3 năm 2017

Xin bà cho biết tại sao bà lại chọn tới thăm Việt Nam trong thời điểm này?

Tình hình địa chính trị thế giới đã có nhiều thay đổi với nhiều yếu tố bất ngờ khiến tôi thấy cần thiết phải tận mắt chứng kiến tình hình tại Việt Nam hiện nay.

Rõ ràng Việt Nam đã sẵn sàng để có những chuyển đổi về tiêu chuẩn lao động quốc tế, bao gồm tự do liên kết và thương lượng tập thể. Đây là yếu tố quan trọng để thúc đẩy công bằng xã hội tại Việt Nam. Thế nhưng, những chuyển đổi này sẽ được tiếp tục như thế nào trong bối cảnh chính trị mới, đặc biệt là sau khi chính quyền mới của Hoa Kỳ quyết định rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)?

Với tôi, chuyến đi này rất thú vị, giúp tôi hiểu rõ hơn quyết tâm chính trị của Công đoàn Việt Nam, rằng Công đoàn Việt Nam vẫn sẵn sàng tiến bước, đáp ứng những tiêu chuẩn lao động quốc tế. Tôi đánh giá cao điều đó.

Điều gì khiến bà ấn tượng nhất sau khi gặp các đối tác liên quan đến hoạt động của người lao động?

Ấn tượng lớn nhất của tôi là Việt Nam đang ở trong giai đoạn có tính chất quyết định.

Rõ ràng là Việt Nam mong muốn được trở thành một phần của cộng đồng quốc tế và hiểu những nghĩa vụ gắn liền với điều đó.

Từ bên ngoài vẫn còn áp lực của hiệp định thương mại tự do giữa Liên minh Châu Âu và Việt Nam, trong đó khía cạnh xã hội trong chương "Thương mại và Phát triển Bền vững" có vai trò rất quan trọng. Nó thúc đẩy quyền và điều kiện làm việc của người lao động trong khuôn khổ của Tuyên bố của ILO về Những Nguyên tắc và Quyền cơ bản trong Lao động, bao gồm tự do liên kết, quyền thương lượng tập thể, xóa bỏ lao động cưỡng bức, lao động trẻ em và phân biệt đối xử.

Nhưng quan trọng hơn, đây là lúc để chính nội lực và sự năng động của Việt Nam khởi động và dẫn dắt sự thay đổi.

Bởi vậy, tôi rất quan tâm đến các bước tiếp theo và cách thức Việt Nam triển khai các bước đó dựa trên thứ tự ưu tiên, thời gian và sự đồng thuận chính trị -- những yếu tố cần thiết để đưa xã hội tiến lên theo hướng đi quan trọng này.

Bà vừa nhắc đến việc Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế thông qua các hiệp định thương mại tự do mà trong đó thường bao gồm các điều khoản về lao động. Theo bà, người lao động Việt Nam có thể được hưởng lợi như thế nào từ điều này?

Việc người lao động Việt Nam cũng được hưởng các quyền giống như người lao động tại hầu hết các quốc gia trên thế giới về đối xử công bằng, tự do liên kết, và thương lượng tập thể, có vai trò đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là vấn đề về quyền mà còn là sự bảo vệ dành cho họ.

Hơn nữa, điều này thể hiện rằng chúng ta đang làm việc trên cơ sở cạnh tranh công bằng – một yếu tố quan trọng khi một quốc gia muốn thúc đẩy chính sách thương mại.

Cạnh tranh công bằng có nghĩa là quyền của người lao động không thể bị bán rẻ . Theo quan điểm của tôi, đây có lẽ là yếu tố cốt lõi của mọi cuộc thảo luận trong giai đoạn này. Và nó cũng chính là điểm mà người lao động phải giành lấy để được bảo vệ tốt hơn, đặc biệt trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa, nơi mà những nguyên tắc và quyền cơ bản của người lao động không phải lúc nào cũng được đặt trước các lợi ích kinh tế.

Như bà đã đề cập, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (TLĐLĐVN) đang có kế hoạch đổi mới toàn diện. Theo bà, đâu là những yếu tố đột phá trong bản kế hoạch đề xuất? Và liệu có những điểm nào có thể cải thiện tốt hơn?

Bản thân sự tồn tại của một kế hoạch đổi mới đã là một yếu tố rất tích cực.

Các tổ chức công đoàn thường không nhận thấy sự cần thiết phải đổi mới và sự cần thiết phải thay đổi chính sách và thực hành ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế. Công đoàn thường thể hiện tốt hơn khi nói và đưa ra yêu cầu đối với các bên khác, so với việc phân tích xem làm thế nào để phục vụ đoàn viên của mình tốt hơn.

Vì thế TLĐLĐVN hiểu rằng trong thế giới toàn cầu hóa và một nền kinh tế thị trường mở cửa, thương mại là cốt lõi của phát triển kinh tế. Nếu TLĐLĐVN muốn thúc đẩy phát triển xã hội ngang tầm với phát triển kinh tế, họ sẽ cần phải hoạt động thật sự hiệu quả. Họ sẽ cần phải đặt quyền và lợi ích của người lao động lên hàng đầu trong các chính sách và tìm cách tốt nhất để thực hiện điều đó bởi vì thúc đẩy sự bảo vệ người lao động là nền tảng của một nền kinh tế thị trường vận hành tốt.

Việc này có thể đạt được bằng cách đàm phán các điều khoản và điều kiện để người lao động được làm việc trong môi trường tốt, mức lương thỏa đáng, được bảo vệ về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, cân bằng giữa công việc và cuộc sống... thông qua thương lượng tập thể.

Tôi nghĩ rằng TLĐLĐVN hiểu rõ điều này. Tuy nhiênthực hiện một kế hoạch lớn như vậy không hề đơn giản bởi nó động chạm đến nhiều tầng lớp trong vai trò đại diện của tổ chức công đoàn. Và theo kinh nghiệm của tôi, để công đoàn thay đổi không dễ chút nào.

Năng lực của TLĐLĐVN trong thúc đẩy cải cách với sự tham gia thực chất của người lao động và công đoàn tại các cấp là chìa khóa duy nhất dẫn đến thành công.

Tôi tin rằng các giải pháp đa dạng trong kế hoạch đổi mới hoạt động công đoàn sẽ được thực hiện tốt. Tuy nhiên, sẽ cần có một quá trình chuyển đổi nhất định từ mô hình nhiêm vụ hiện tại sang mô hình mới. Đại diện và lãnh đạo công đoàn cũng như bản thân người lao động có vai trò quan trọng khi triển khai quá trình này.

Đây là một thách thức lớn nhưng tôi tin rằng TLĐLĐVN hiểu rất rõ vấn đề.

Bà có thể chia sẻ với những người hoạt động công đoàn Việt Nam những bài học quốc tế liên quan đến cải cách công đoàn?

Việc công đoàn hiểu rằng họ cần phải đổi mới đã là một trong những bước quan trọng đầu tiên để có hướng đi đúng đắn.

Nếu nhìn vào cách thị trường lao động đang vận hành ngày nay so với một thập kỷ trước đây, chúng ta có thể thấy rõ những khác biệt lớn. Nếu nhìn vào những mong muốn của người lao động ngày nay, khả năng họ sử dụng thông tin, công nghệ truyền thông và mạng xã hội, thì đó là một bức tranh hoàn toàn khác so với 10 năm trước.

Vì vậy, công đoàn trong thế giới ngày nay cần phải hiểu rõ tất cả những điều đó và biết đâu là cách tốt nhất để giao tiếp và truyền tải thông điệp tới các thành viên của mình, cũng như tìm kiếm những thành viên mới.

Tôi nghĩ rằng các quá trình cải cách chúng ta từng chứng kiến, như ở các quốc gia vùng Scandinavia, rất thú vị: Họ không chỉ duy trì được số lượng đoàn viên mà còn tăng được con số đó. Đây là kết quả của việc các công đoàn hiểu rằng các ngành truyền thống vỗn dễ kết nạp thành viên đang mất dần vị thế và sức mạnh trong nền kinh tế, vì vậy đó họ chuyển mục tiêu sang các ngành mới nổi.

Việt Nam đang chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền công nghiệp hóa - một nền công nghiệp dựa trên công nghệ thông tin, tự động hóa, và áp dụng công nghệ mới vào thị trường lao động. Vì vậy bước nhảy của Việt Nam cần phải xa hơn, nhanh hơn trước. Công đoàn phải nắm rõ được điều đó. Và như tôi đã đề cập, các quốc gia vùng Scandinavia có lẽ là những nước đi đầu trong lĩnh vực này. Đây là một ví dụ tốt để Việt Nam học hỏi.