Nô lệ thời hiện đại

Lao động cưỡng bức tạo ra 150 tỷ USD lợi nhuận hàng năm trên thế giới

Báo cáo của ILO chỉ ra rằng lợi nhuận cao nhất nằm ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và bóc lột tình dục cưỡng bức. Việt Nam không có nghiên cứu toàn diện về vấn đề này.

Thông cáo báo chí | Ngày 20 tháng 5 năm 2014
HÀ NỘI – Theo báo cáo mới của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), lao động cưỡng bức trong khu vực kinh tế tư nhân tạo ra 150 tỷ USD lợi nhuận bất hợp pháp mỗi năm trên toàn thế giới, với nguồn thu cao nhất (hơn 1/3 lợi nhuận trên toàn cầu) đến từ khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Báo cáo của ILO với tựa đề Lợi nhuận và Nghèo đói: Kinh tế học về Lao động Cưỡng bức, đã chỉ ra rằng 2/3 trong tổng lợi nhuận 150 tỷ USD là từ bóc lột tình dục vì mục đích thương mại, trong khi phần còn lại đến từ hình thức bóc lột lao động về kinh tế, bao gồm giúp việc gia đình, các hoạt động liên quan đến nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác.

“Lao động cưỡng bức gây ảnh hưởng xấu tới kinh doanh và phát triển và đặc biệt tới những nạn nhân. Báo cáo mới của chúng tôi cho thấy nhiệm vụ cấp bách là phải thúc đẩy những nỗ lực nhằm xóa bỏ vấn nạn tạo ra mức lợi nhuận khổng lồ này càng sớm càng tốt,” Tổng Giám đốc ILO, Guy Ryder, nhấn mạnh.

Những ước tính mới này dựa vào dữ liệu ILO đã công bố trong năm 2012 ước tính số nạn nhân của lao động cưỡng bức, buôn bán người và nô lệ thời hiện đại ở mức 21 triệu.

Khu vực châu Á – Thái Bình Dương chiếm tỉ lệ lớn nhất (56% trong tổng số lao động cưỡng bức trên toàn cầu). Tuy nhiên, lợi nhuận hàng năm thu về từ mỗi nạn nhân tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương (5.000 USD/người/năm) thấp thứ hai trên thế giới. Người ta kiếm được nhiều tiền nhất từ mỗi nạn nhân ở các nền kinh tế phát triển (35.000 USD/người/năm) và ít nhất ở châu Phi (3.900 USD/người/năm).

Số liệu của ILO cho thấy hơn một nửa trên tổng số lao động cưỡng bức toàn cầu là phụ nữ và các bé gái, chủ yếu trong hoạt động bóc lột tình dục với mục đích thương mại và giúp việc gia đình, trong khi nam giới và các bé trai thường bị bóc lột lao động về kinh tế trong nông nghiệp, xây dựng và khai thác mỏ.

Lợi nhuận thu về từ mỗi nạn nhân lớn nhất ở hình thức bóc lột tình dục (21.800 USD/người/năm). Điều này có thể được lý giải do nhu cầu đối với những loại hình dịch vụ kiểu này, số tiền khách hàng sẵn sàng trả, và do vốn đầu tư thấp cũng như chi phí hoạt động thấp của hoạt động này.

Theo báo cáo, những biến cố về thu nhập và đói nghèo là những yếu tố kinh tế chính khiến người lao động trở thành nạn nhân của lao động cưỡng bức. Những nguyên nhân khác liên quan đến sự thiếu hiểu biết, nạn mù chữ, giới tính và di cư.

“Nếu chúng ta muốn tạo nên sự thay đổi đáng kể đối với cuộc sống của 21 triệu nam giới, nữ giới và trẻ em là nạn nhân của lao động cưỡng bức, chúng ta cần có những hành động cụ thể và ngay lập tức,” Tổng Giám đốc ILO khẳng định.

“Điều đó nghĩa là các chính phủ cần củng cố luật pháp, chính sách và thi hành pháp luật; người sử dụng lao động cần quan tâm đúng mức để đấu tranh chống lại lao động cưỡng bức, bao gồm từ chuỗi cung ứng; và các tổ chức công đoàn cần đại diện và trao quyền cho những người lao động có nguy cơ trở thành nạn nhân của lao động cưỡng bức.”

ILO cũng đồng thời khuyến nghị các biện pháp khác, bao gồm:
• Thúc đẩy sàn an sinh xã hội để bảo vệ các hộ gia đình nghèo khi gặp phải những cú sốc đột ngột về thu nhập;
• Đầu tư vào giáo dục và đào tạo kỹ năng để tăng cơ hội việc làm cho người lao động dễ bị tổn thương;
• Thúc đẩy cách tiếp cận dựa trên quyền đối với vấn đề di cư để phòng ngừa tình trạng bóc lột người lao động di cư;
• Hỗ trợ các tổ chức của người lao động, nhất là trong những ngành nghề có khả năng xuất hiện lao động cưỡng bức.

Theo ILO, lao động cưỡng bức là tất cả các công việc hoặc dịch vụ mà một người bị ép buộc phải làm dưới sự đe dọa bằng bất kỳ hình phạt nào và là các công việc hoặc dịch vụ mà người đó không tự nguyện làm. Các chỉ số của cưỡng bức lao động bao gồm:

• Lạm dụng tình trạng khó khan của người lao động
• Lừa gạt
• Hạn chế đi lại
• Bị cô lập
• Bạo lực thân thể và tình dục
• Dọa nạt, đe dọa
• Giữ giấy tờ tùy thân
• Giữ tiền lương
• Lệ thuộc vì nợ
• Điều kiện sống và làm việc bị lạm dụng
• Làm thêm giờ quá quy định


Lao động cưỡng bức tại Việt Nam: bức tranh chưa rõ ràng


• Việt Nam không có nghiên cứu toàn diện về lao động cưỡng bức.

• Mặc dù vấn đề lao động cưỡng bức bị cấm trong pháp luật Việt Nam nhưng các chế tài, đặc biệt là chế tài hình sự, chưa được đề cập đầy đủ, thỏa đáng và hiệu quả.

• Theo một báo cáo chính thức từ Chính phủ Việt Nam gửi tới ILO, trong năm 2011, có 131 trường hợp buôn bán người tại nước ta bị truy tố, liên quan đến 237 bị cáo. Con số này đã tăng lên so với năm trước đó (124 trường hợp liên quan đến 207 bị cáo). Phần lớn các trường hợp này đều liên quan tới việc buôn bán người để bóc lột tình dục với mục đích thương mại bởi những trường hợp buôn bán người để lao động cưỡng bức trong các khu vực kinh tế không bị truy tố với tội danh buôn bán người theo pháp luật Việt Nam.

• Trong khi xu hướng di cư lao động quốc tế đang tăng lên tại Việt Nam, những người lao động thiếu hiểu biết đầy đủ về di cư an toàn có nguy cơ trở nạn nhân của lao động cưỡng bức. Theo Cục Quản lý Lao động Ngoài nước, mỗi năm họ nhận được khoảng 300 đơn thư, bao gồm những khiếu nại, từ lao động di cư. Hầu hết các đơn khiếu nại có nội dung về chi phí cao (khiến người lao động có thể bị lệ thuộc vì nợ), trừ lương một cách vô lý, làm những công việc khác với những gì đã được các doanh nghiệp tuyển dụng thông báo trước khi đi. Đây là những chỉ số của ILO về lao động cưỡng bức.

• ILO có hai công ước về lao động cưỡng bức – Công ước về Lao động Cưỡng bức năm 1930 và tiếp đó là Công ước về Xóa bỏ Lao động Cưỡng bức năm 1957. Việt Nam đã phê chuẩn công ước đầu tiên vào năm 2007.




GENEVA – Theo một ước tính mới của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), vai trò của lao động tự làm và doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ trong tạo việc làm quan trọng hơn nhiều so với những gì chúng ta từng nghĩ trước đây. 

Số liệu thu thập được từ 99 quốc gia cho thấy những “đơn vị kinh tế nhỏ” này chiếm 70% tổng số việc làm, khiến cho họ trở thành động lực quan trọng nhất trong tạo việc làm.

Phát hiện của nghiên cứu này “rất có ý nghĩa” đối với những chính sách và chương trình về tạo việc làm, chất lượng việc làm, khởi nghiệp, năng suất của doanh nghiệp và chính thức hóa việc làm, theo đó, báo cáo nêu rằng cần phải chú trọng hơn tới những đơn vị kinh tế nhỏ này.

Báo cáo cũng chỉ ra rằng trung bình 62% việc làm tại 99 quốc gia này thuộc khu vực phi chính thức, nơi mà điều kiện làm việc nói chung có xu hướng kém (ví dụ như không có an sinh xã hội, tiền lương thấp hơn, điều kiện an toàn và sức khỏe nghề nghiệp kém và quan hệ lao động cũng kém hơn). Mức độ phi chính thức của các quốc gia cũng khác nhau, từ hơn 90% tại Benin, Bờ biển Ngà và Madagascar tới dưới 5% tại Áo, Bỉ, Brunei Darussalam và Thụy Sỹ.

Thông tin này được công bố trong một báo cáo mới của ILO có tiêu đề Nhỏ nhưng quan trọng: Bằng chứng toàn cầu về mức đóng góp cho việc làm của lao động tự làm, doanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Báo cáo chỉ ra rằng ở các nước có thu nhập cao, 58% tổng số việc làm là ở các đơn vị kinh tế nhỏ, trong khi đó ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, tỷ lệ này cao hơn đáng kể. Báo cáo cũng cho biết ở những nước có mức thu nhập thấp nhất, tỷ trọng việc làm trong các đơn vị kinh doanh nhỏ là gần 100%.

Ước tính này được thực hiện dựa trên số liệu điều tra lực lượng lao động và hộ gia đình trong nước được thu thập từ tất cả các khu vực trừ Bắc Mỹ thay vì dùng những nguồn số liệu điều tra doanh nghiệp mang tính truyền thống thường có phạm vi hạn chế hơn.

“Theo chúng tôi được biết, đây là lần đầu tiên chúng ta ước tính mức đóng góp tạo việc làm của các đơn vị kinh tế nhỏ dùng biện pháp so sánh đối với một tập hợp nhiều quốc gia như vậy, đặc biệt là các quốc gia thu nhập thấp và trung bình”, ông Dragan Radic, trưởng Phòng Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa của ILO, cho biết.

Báo cáo khuyến nghị rằng việc hỗ trợ các đơn vị kinh tế nhỏ cần trở thành trọng tâm của các chiến lược phát triển kinh tế và xã hội. Báo cáo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo một môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp đó, đảm bảo họ thực hiện chức năng đại diện hiệu quả và các mô hình đối thoại xã hội cũng vận hành hiệu quả đối với họ.

Các khuyến nghị khác được đưa ra bao gồm: cần hiểu năng suất của doanh nghiệp được định hình bởi một “hệ sinh thái” lớn hơn như thế nào, tạo điều kiện tiếp cận tài chính và thị trường, thúc đẩy tinh thần kinh doanh của phụ nữ và khuyến khích công cuộc chuyển dịch sang nền kinh tế chính thức và bền vững về môi trường.

Doanh nghiệp siêu nhỏ được định nghĩa là doanh nghiệp có ít hơn 9 lao động, trong khi đó doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có thể tuyển dụng tới 49 lao động.