Công nghiệp vận tải biển vươn xa với cam kết mới bảo vệ lao động

Một “đạo luật nhân quyền” mới – Công ước Lao động Hàng hải của Tổ chức Lao động Quốc tế – chính thức có hiệu lực, với mục tiêu bảo vệ quyền lợi cho khoảng 1.5 triệu thuyền viên trên toàn thế giới và đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ tàu. Việt Nam là nước thứ 37 phê duyệt Công ước.

Thông cáo báo chí | Ngày 20 tháng 8 năm 2013
GENEVA – Công ước Lao động Hàng hải của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức có hiệu lực ngày 20/8/2013, mở ra một kỷ nguyên mới, đảm bảo việc làm bền vững cho thuyền viên và cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ tàu hoạt động trong ngành vận tải biển toàn cầu.

“Công ước này là một mốc quan trọng trong lịch sử hàng hải,” Tổng Giám đốc ILO, ông Guy Ryder, cho biết. “Đây là sản phẩm của cơ chế đối thoại ba bên và hợp tác quốc tế, thúc đẩy việc tạo điều kiện sống và làm việc đảm bảo, bền vững cho thuyền viên, trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ tàu trong một ngành mang tính toàn cầu hóa cao.”

Công ước MLC 2006 chính thức trở thành luật quốc tế áp dụng từ ngày 20/8. Để có hiệu lực, Công ước cần sự tham gia của ít nhất 30 nước thành viên ILO, chiếm hơn hơn 33% tổng lượng hàng hóa vận chuyện qua đường hàng hải của cả thế giới. Đến nay, hơn 45 nước thành viên ILO đã phê duyệt Công ước; những nước này ước tính vận chuyển khoảng 75% tổng lượng hàng hóa vận tải biển toàn cầu.

Công ước MLC 2006 nhận được sự đồng thuận cao từ Liên đoàn Lao động Vận tải Quốc tế (ITF) là tổ chức đại diện cho thuyền viên, và Hiệp hội Chủ tàu Quốc tế (ISF). Cả hai tổ chức đã đóng vai trò quan trọng trong năm năm phát triển, xây dựng và đưa Công ước này ra trước Hội nghị Lao động Quốc tế của ILO năm 2006.



Công ước Lao động Hàng hải nhằm mục tiêu đảm bảo điều kiện làm việc cho thuyền viên song song với cạnh tranh bình đẳng. © ILO


Công ước MLC 2006 cũng được Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) – đại diện cho ngành vận tải biển toàn cầu, chiếm khoảng 90% khối lượng hàng hóa vận chuyển toàn cầu -- ủng hộ mạnh mẽ. Liên minh Châu Âu cũng đã phê duyệt một số hướng dẫn thúc đẩy việc hiệu lực hóa Công ước này. Trong khi đó, các tổ chức khu vực về kiểm tra của chính quyền cảng (port State control) là Paris-MOU và Tokyo-MOU cũng đã phê duyệt các nguyên tắc được đưa ra trong Công ước MLC 2006 nhằm tăng cường kiểm tra và giám sát của các chính quyền tại bến cảng.

“Công ước MLC 2006 có hiệu lực là một sự kiện đáng chú ý trong lịch sử luật hàng hải quốc tế,” bà Cleopatra Doumbia-Henry, trưởng bộ phận Tiêu chuẩn Lao động Quốc tế của ILO cho biết. “Giờ đây nhiệm vụ của tất cả chúng ta là đưa cơ sở pháp lý này trở thành luật và thực tiễn để thuyền viên có thể được bảo vệ và các chủ tàu đạt chuẩn có thể thực sự hưởng lợi từ Công ước.”

“ILO sẽ đồng hành với chính phủ, các tổ chức của thuyền viên và chủ tàu cùng các bên liên quan trong ngành hàng hải để đảm bảo rằng những mục tiêu của Công ước MLC 2006 được thực hiện đầy đủ,” bà Doumbia-Henry nhấn mạnh thêm.

Công ước MLC 2006, một mặt tập hợp những tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu nhằm đảm bảo việc làm bền vững cho thuyền viên, mặt khác giúp tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các chủ tàu đạt chuẩn mang cờ của các nước đã phê duyệt Công ước, thúc đẩy cạnh tranh thông qua việc đảm bảo hiệu quả và tăng độ tin cậy trong vận tải biển. Mục tiêu bao trùm của Công ước là đảm bảo điều kiện làm việc song song với cạnh tranh bình đẳng.

Việt Nam: ráo riết chuẩn bị cho Công ước
 


Việt Nam trở thành nước thứ 37 phê duyệt công ước vào tháng 5 năm 2013.

Theo Cục Hàng Hải Việt Nam, hiện nay có khoảng 32.000 sỹ quan, thuyền viên được cấp chứng chỉ, trong đó có khoảng 27.000 người đang làm việc trên đội tàu trong nước và các tàu nước ngoài. Đội tàu 1.700 chiếc của Việt Nam đáp ứng được khoảng một phần mười lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam và gần một nửa số hàng hóa vận chuyển trong nước.

Ngày 25/7, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thông qua kế hoạch thực hiện Công ước MLC. Thủ tướng yêu cầu đến năm 2015, phải hoàn thiện luật pháp về lao động hàng hải; kiểm tra và cấp giấy chứng nhận cho đội tàu của Việt Nam và thiết lập một cơ chế tham vấn ba bên có đại diện của chính phủ, chủ tàu và thuyền viên trong năm nay. Đồng thời, việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phúc lợi, thông tin và giải trí ở cảng biển cũng cần được hoàn thành từ nay đến năm 2020.



Việt Nam có khoảng 32.000 sỹ quan, thuyền viên được cấp chứng chỉ, trong đó có khoảng 27.000 người đang làm việc trên đội tàu trong nước và các tàu nước ngoài. © ILO


“Tôi chúc mừng Chính phủ Việt Nam đã phê chuẩn Công ước MLC 2006. Việt Nam đã có những nỗ lực đáng ghi nhận trong việc nâng cao đội tàu trong nước lên tầm quốc tế và thể hiện mạnh mẽ cam kết bảo vệ thuyền viên,” Giám đốc ILO tại Việt Nam, ông Gyorgy Sziraczki, cho biết.

Ông cam kết ILO sẽ đồng hành với Việt Nam, giúp nâng cao năng lực và hỗ trợ kỹ thuật để Công ước có thể đi vào cuộc sống.

GENEVA – Theo một ước tính mới của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), vai trò của lao động tự làm và doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ trong tạo việc làm quan trọng hơn nhiều so với những gì chúng ta từng nghĩ trước đây. 

Số liệu thu thập được từ 99 quốc gia cho thấy những “đơn vị kinh tế nhỏ” này chiếm 70% tổng số việc làm, khiến cho họ trở thành động lực quan trọng nhất trong tạo việc làm.

Phát hiện của nghiên cứu này “rất có ý nghĩa” đối với những chính sách và chương trình về tạo việc làm, chất lượng việc làm, khởi nghiệp, năng suất của doanh nghiệp và chính thức hóa việc làm, theo đó, báo cáo nêu rằng cần phải chú trọng hơn tới những đơn vị kinh tế nhỏ này.

Báo cáo cũng chỉ ra rằng trung bình 62% việc làm tại 99 quốc gia này thuộc khu vực phi chính thức, nơi mà điều kiện làm việc nói chung có xu hướng kém (ví dụ như không có an sinh xã hội, tiền lương thấp hơn, điều kiện an toàn và sức khỏe nghề nghiệp kém và quan hệ lao động cũng kém hơn). Mức độ phi chính thức của các quốc gia cũng khác nhau, từ hơn 90% tại Benin, Bờ biển Ngà và Madagascar tới dưới 5% tại Áo, Bỉ, Brunei Darussalam và Thụy Sỹ.

Thông tin này được công bố trong một báo cáo mới của ILO có tiêu đề Nhỏ nhưng quan trọng: Bằng chứng toàn cầu về mức đóng góp cho việc làm của lao động tự làm, doanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Báo cáo chỉ ra rằng ở các nước có thu nhập cao, 58% tổng số việc làm là ở các đơn vị kinh tế nhỏ, trong khi đó ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, tỷ lệ này cao hơn đáng kể. Báo cáo cũng cho biết ở những nước có mức thu nhập thấp nhất, tỷ trọng việc làm trong các đơn vị kinh doanh nhỏ là gần 100%.

Ước tính này được thực hiện dựa trên số liệu điều tra lực lượng lao động và hộ gia đình trong nước được thu thập từ tất cả các khu vực trừ Bắc Mỹ thay vì dùng những nguồn số liệu điều tra doanh nghiệp mang tính truyền thống thường có phạm vi hạn chế hơn.

“Theo chúng tôi được biết, đây là lần đầu tiên chúng ta ước tính mức đóng góp tạo việc làm của các đơn vị kinh tế nhỏ dùng biện pháp so sánh đối với một tập hợp nhiều quốc gia như vậy, đặc biệt là các quốc gia thu nhập thấp và trung bình”, ông Dragan Radic, trưởng Phòng Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa của ILO, cho biết.

Báo cáo khuyến nghị rằng việc hỗ trợ các đơn vị kinh tế nhỏ cần trở thành trọng tâm của các chiến lược phát triển kinh tế và xã hội. Báo cáo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo một môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp đó, đảm bảo họ thực hiện chức năng đại diện hiệu quả và các mô hình đối thoại xã hội cũng vận hành hiệu quả đối với họ.

Các khuyến nghị khác được đưa ra bao gồm: cần hiểu năng suất của doanh nghiệp được định hình bởi một “hệ sinh thái” lớn hơn như thế nào, tạo điều kiện tiếp cận tài chính và thị trường, thúc đẩy tinh thần kinh doanh của phụ nữ và khuyến khích công cuộc chuyển dịch sang nền kinh tế chính thức và bền vững về môi trường.

Doanh nghiệp siêu nhỏ được định nghĩa là doanh nghiệp có ít hơn 9 lao động, trong khi đó doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có thể tuyển dụng tới 49 lao động.