Công đoàn

Phương thức hoạt động của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở: Kinh nghiệm của một số quốc gia và một số quan sát về thực tiễn ở Việt Nam

TS Chang Hee Lee, chuyên gia cao cấp về quan hệ lao động, Giám đốc ILO Việt Nam

Bình luận | Ngày 14 tháng 2 năm 2019
Công đoàn cơ sở (CĐCS) là đơn vị công đoàn cốt lõi trực tiếp tiếp cận người lao động và tương tác với người sử dụng lao động để cải thiện tiền lương và điều kiện lao động, cũng như bảo vệ quyền của người lao động. Nhưng Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở (CĐCTTT) cũng đóng vai trò quan trọng tương tự như CĐCS.

Trên thế giới hiện có rất nhiều hình thức và mô hình công đoàn. Có thể là mô hình công đoàn cấp doanh nghiệp, hợp thành bởi những người lao động làm việc trong cùng một doanh nghiệp. Cũng có mô hình công đoàn theo nghề, tụ hội các công đoàn hoạt động trong cùng lĩnh vực nghề nghiệp đến từ nhiều doanh nghiệp khác nhau (ví dụ như công đoàn thợ mộc, công đoàn thợ điện). Hoặc có công đoàn chung, bao gồm nhiều loại hình người lao động đến từ các ngành khác nhau hoạt động trên cùng địa bàn, hoặc công đoàn ngành của tất cả các hình thức người lao động làm việc trong các doanh nghiệp khác nhau nhưng trong cùng một ngành kinh tế (như công đoàn ngành giáo dục, công đoàn ngành kim loại, công đoàn ngành tài chính). Những hình thức công đoàn này có thể cùng tồn tại trong một quốc gia.

Công đoàn theo nghề ngày nay hiếm gặp. Trong những năm gần đây, các công đoàn chung có xu hướng tái sát nhập để tổ chức và bảo vệ người lao động trước những hình thức việc làm phi tiêu chuẩn ngày càng tăng trong các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ cũng như trong nền kinh tế phi chính thức ở rất nhiều nước. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (TLĐLĐVN) cần xây dựng chiến lược tầm quốc gia để tổ chức và đại diện người lao động ở trong các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.

Mặc dù công đoàn có thể ở dưới bất cứ hình thức nào, các công đoàn ở các quốc gia và các lục địa khác nhau có ba chức năng chính. Trước hết và quan trọng nhất, bất cứ công đoàn nào cũng có chức năng đại diện cho người lao động và thương lượng thoả ước lao động tập thể. Chức năng thứ hai là tác động tới luật và chính sách có ảnh hưởng tới người lao động và đoàn viên công đoàn, bằng cách chủ động tham gia đối thoại xã hội ở cấp quốc gia, cấp ngành và cấp khu vực. Và chức năng thức ba là cung cấp các dịch vụ và một số phúc lợi cho đoàn viên công đoàn.

Ở một số quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc và Mỹ, công đoàn doanh nghiệp và thương lượng tập thể ở cấp doanh nghiệp chiếm ưu thế, trong khi công đoàn ngành và thương lượng ngành lại rất nổi trội ở những quốc gia trong lục địa Châu Âu như Đức, Thuỵ Điển và một số nước khác.

Kể cả ở quốc gia mà mô hình công đoàn và thương lượng cấp doanh nghiệp là phương thức phổ biến, CĐCTTT vẫn đóng vai trò rất quan trọng hỗ trợ người lao động và CĐCS. Nhiệm vụ chính của CĐCTTT bao gồm 1) công tác tổ chức người lao động trong các doanh nghiệp chưa có tổ chức công đoàn, 2) giáo dục và bồi dưỡng người lao động để đại diện hiệu quả hơn cho người lao động và thương lượng tập thể, 3) điều phối và hỗ trợ thương lượng tập thể giữa các doanh nghiệp nằm trong phạm vi thẩm quyền của CĐCTTT, 4) tuyên truyền và vận động chính sách của công đoàn đối với đoàn viên công đoàn, và 5) tác động tới các chính sách của chính phủ để tạo điều kiện có lợi hơn cho người lao động.

Lịch sử công đoàn cho thấy công đoàn cấp trên được ‘tạo ra’ trên cơ sở ‘liên kết’ của các công đoàn cấp cơ sở đã được người lao động tự thành lập trước đó. Do vậy, vai trò quan trọng nhất của CĐCTTT là hỗ trợ người lao động tổ chức công đoàn ở cơ sở nơi chưa có công đoàn. Các Công đoàn Khu Công nghiệp/Khu Kinh tế/Khu Chế xuất (gọi tắt là Công đoàn Khu Công nghiệp – CĐKCN) cần nỗ lực tối đa để tạo liên kết trực tiếp với người lao động, hỗ trợ không chỉ lãnh đạo CĐCS mà còn cho tổ trưởng tổ CĐ ở nơi làm việc. Một trong những vấn đề then chốt với CĐCS tại Việt Nam là rất nhiều CĐ do quản lý chi phối. Làm thế nào để dần biến CĐCS trở thành CĐ của người lao động, độc lập hỏi sự chi phối và can thiệp của quản lý. Cuối cùng, công đoàn là một tổ chức của người lao động, cho cho người lao động và vì người lao động, và quyền công đoàn cũng chính là quyền của người lao động.

Là một phần trong ba khâu đột phá được thông qua tại Đại hội XII Công đoàn Việt Nam, TLĐLĐVN cần xem xét những đổi mới đối với cấp CĐKCN. CĐKCN không có đủ nguồn lực về nhân sự đồng thời cũng không có ‘cơ sở mang tính chất ngành’ để thực hiện những nhiệm vụ cốt lõi của CĐCTTT như mô tả ở phần trên. Để vượt qua những khó khăn này, CĐKCN có thể cần xây dựng những tổ nòng cốt trong từng CĐKCN, bao gồm lãnh đạo và tổ trưởng tổ CĐCS, tập trung vào việc thương lượng tập thể ở các ngành cụ thể (ví dụ như ngành chế biến thực phẩm, ngành may). Đồng thời các CĐKCN ở những tỉnh lân cận có thể hình thành cơ chế hợp tác mà từ đó CĐKCN ở tỉnh A có thể làm đầu mối cho ngành A (ví dụ ngành chế biến thực phẩm) cho các CĐKCN ở các tỉnh A, B, C và D, trong khi CĐKCN ở tỉnh B có thể làm đầu mối cho ngành B (ví dụ ngành may) cho các CĐKCN ở các tỉnh A, B, C và D. Cách thức này có thể tăng cường hiệu quả hoạt động của CĐKCN trong bối cảnh nguồn lực về con người bị giới hạn, đồng thời xây dựng từng bước công đoàn theo cấu trúc ngành tại Việt Nam. Theo đó, nhóm các CĐKCN có thể xem xét dần hình thành Uỷ ban Người lao động làm việc trong cùng ngành ở các khu công nghiệp khác nhau.

Khi Bộ luật Lao động Sửa đổi được thông qua, TLĐLĐVN sẽ đối mặt với những thách thức khi có sự xuất hiện của các tổ chức người lao động mới. TLĐLĐVN có lịch sử lâu dài và vẻ vang, với số lượng đoàn viên và nguồn lực tài chính lớn. Tuy nhiên, chỉ khi TLĐLĐVN trở thành tổ chức của người lao động hiệu quả, thì TLĐLĐVN sẽ trở nên mạnh mẽ hơn nữa, là người đi đầu trong tầng lớp lao động Việt Nam. Ở khía cạnh này, CĐKCN đóng một vị trí đặc biệt trong cấu trúc TLĐLĐVN, vì vai trò của họ hướng tới nhiều hơn vào việc đại diện và thương lượng tập thể, thay vi thực hiện các chức năng ‘chính trị xã hội’ khác và đây là cấp công đoàn tiếp cận trực tiếp với người lao động và CĐCS. Đây chính là khâu đột phá then chốt, như đã được thông qua tại Đại hội XII Công đoàn Việt Nam, cần được thực hiện để đảm bảo vai trò lãnh đạo liên tục của TLĐLĐVN đối với người lao động Việt Nam.